Mấy hôm nay, cư dân điện ảnh mạng xôn xao vì tin này: A French-Vietnamese director Tran Anh Hung bringing Murakami’s NORWEGIAN WOOD to the big screen. Mới nghe đã thấy thú vị. Rừng NaUy được dựng thành phim? Cái khoái cảm của hai năm trước khi lần đầu tiên đọc cuốn tiểu thuyết trứ danh của ông làm dậy lên trong tôi niềm thôi thúc muốn viết một cái gì đó. Not a review, simply a speech.

Du Tử Lê trong một bài phỏng vấn bởi trung tâm âm nhạc Thúy Nga đã từng tâm sự: "Khi bài thơ được gắn thêm phần âm nhạc, nó có thêm một đôi cánh khác nữa ngoài đôi cánh tự thân của nó là Thi ca, và nó sẽ đi xa hơn". Yeap, người nhạc sĩ lúc này đóng vai trò thổi giai điệu vào con chữ, chắp cánh cho hồn thơ bay bổng hơn, đi xa hơn. Chiếu theo đó, việc đưa một tiểu thuyết lên màn ảnh, ở một chừng mực nào đó, cũng tương đồng với việc phổ nhạc cho một bài thơ. Hơn 300 bài nhạc phổ từ thơ của Du Tử Lê, số bài nghe được không quá nhiều, số bài thuộc hàng tuyệt phẩm lại càng ít nữa. Người làm cái công việc của một middle-man đưa tác phẩm gốc một cái hồn mới (cả thơ lẫn tiểu thuyết) tới khán, thính giả thường mắc phải cái lỗi là họ tự ý cho mình cái quyền sáng tạo, thay đổi chút chút nội dung gốc đi, để tạo ra một sản phẩm có-chút-gì-đó-của-mình-trên-nền-một-cái-gì-đó-của-người-khác. Nếu sản phẩm làm ra thành công, họ có quyền hãnh diện tuyên bố: "Tuyệt tác đó là của tôi!". Gọi nôm na, là gặt hái thành công trên sự vinh quang của người khác.

That's fine. Tốt thôi, chuyện sẽ chẳng có gì. But...

He is Murakami and that novel is Norwegian Wood, he he...

Việc dựng phim cuốn tiểu thuyết này, tính sơ ra đã thấy mấy điểm khó khăn cơ bản để quyết định tính thành bại của người đạo diễn:

Trước hết là về casting. Văn của Murakami có thiên hướng cực kì tỉ mẩn và kĩ tính trong việc phác họa chân dung nhân vật. Từng dáng đi, nét mặt, cử chỉ đến chi tiết về kiểu tóc, dung nhan, trang phục... đều được ông tỉ mỉ kể lại cho người đọc. Có cảm giác như ông đang tạc lại từ một người thật cái nhân vật mà ông viết đến. Thế nên cứ đọc văn của ông, trong đầu tôi hiện lên rõ ràng và chi tiết nhiều nhất có thể dung mạo một nhân vật là như thế nào. Naoko là phải thế này, Kizuki là phải thế kia... đại khái thế. Và tôi chắc bất kì độc giả nào có dịp nghiềm ngẫm tiểu thuyết của ông đều có chung cái phác họa chân dung nhân vật như thế. Khâu casting cho bộ phim này khó khăn là vậy. Cái ấn tượng đầu tiên về diễn viên mà đã gây thất vọng, thì khó có thể giữ chân người xem đến tận scene bấm máy cuối cùng. Cứ thử tưởng tượng xem, nàng Naoko yếu đuối mỏng manh là vậy mà do một cô gái cao ráo chân dài, chải chuốt và xinh như búp bê thủ vai, e rằng hơi khó nuốt. Naoko's beauty, is not that simple.

Trong cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy ngoài Naoko ra, còn một nhân vật nữa là một thử thách thực sự cho đoàn làm phim. Đó chính là nhân vật cô học trò của Reiko. Cái con bé điển hình cho tính hoàn mỹ đến cực cùng của Murakami. Chọn được một nữ diễn viên mười mấy tuổi đầu biết diễn đã khó, mà làm thế nào để lột tả được cái nội tâm ghê gớm khiến người đọc phải rùng mình ớn lạnh như trong văn của ông, lại còn khó khăn gấp vạn. Trần Anh Hùng, ông cũng tuyên bố muốn thử thách mình, okie vậy đây sẽ là một trong những cái khó khăn nhỏ bé nhất ông cần và nên vượt qua, khi tiến hành làm bộ phim mới này.

Thử thách sơ bộ thứ hai, là cấu trúc bộ phim. Thường thì khi các nhà làm phim dựa trên nền tảng một cuốn tiểu thuyết hay câu truyện nào đó, sẽ bỏ đi ít nhiều chi tiết, hoặc tệ hơn, thay đổi cả cái bối cảnh không gian - thời gian đầy ẩn ý của tác giả, để che đậy cái sự yếu kém của mình khi không-thể-bám-theo-nguyên-mẫu, vốn dĩ là một điều không-thể-tránh-khỏi. Nói ngắn gọn là giữ cái xương sống cho tác phẩm gốc, thay đổi chút xương vụn xung quanh. Thật ra điều này cũng dễ thông cảm thôi vì một tiểu thuyết - hay một bài thơ, khi được chuyển sang môi trường mới (phổ nhạc - dựng phim), sẽ ít nhiều có một thứ gì đó bên trong nó mất đi. Người nhạc sĩ hay người đạo diễn cần khéo léo hạn chế những lỗi này để biến cái thay đổi đó thành hợp lí và chấp nhận được, dựa trên tinh thần tôn trọng tác giả. Quan trọng hơn, là tôn trọng độc giả. Nhất là những độc giả khó tính và kĩ tính, tôi e rằng họ khó lòng chấp nhận một Rừng NaUy bị giày xé và thiêu đốt tạm nham, chắp vá lộn xộn thành một khu vườn thảm thương.

Tốt hơn hết là Trần Anh Hùng nên bám sát cái khung cảnh thời gian - không gian và bối cảnh của truyện, vì chúng là chuẩn rồi. Thế thôi.

Thứ ba nữa, là một lí do vô cùng giản đơn mà cũng cực kì cay đắng. The novel Norwegian Wood is not suitable for being a movie. Or I can say, Murakami's style of literature is not suitable to be expressed by cinema. Văn của Murakami hướng về nội tâm, về mọi địa tầng cảm xúc của con người, thật khó mà chuyển thể được những thứ trong sâu thẳm tâm hồn lên trên một bộ mặt diễn viên, dù rằng anh ấy/cô ấy có khả năng diễn xuất đến đâu đi nữa. Văn của Murakami là để đọc. Only for reading. Just for reading. Là để suy ngẫm. Và để tưởng tượng. Không cần thiết phải hiện thực hóa những câu truyện ấy bằng hình ảnh trần trụi. That's it.

Có lẽ chính ông là người dự cảm được điều đó hơn ai hết, nên từ trước đến nay ông mới chỉ nhận lời cho chuyển thể một tác phẩm văn học của ông, lại là một truyện ngắn trong vô vàn những câu truyện kể. Hình như Trần Anh Hùng dành được ở ông một sự ưu ái hơn lớn chăng?

Các khó khăn khác nữa để xây dựng bộ phim chuyển thể này nữa thì nhiều, ví dụ như những cảnh sex trong truyện chẳng hạn. How to make it as good as Murakami has done? Hay yếu tố âm nhạc được ông gài vào truyện đầy ẩn ý có được thể hiện đủ mạnh và tinh tế qua bộ phim hay không? Nhưng thôi, tạm không bàn đến vấn đề này nữa, đó là việc của đoàn làm phim. They should face those threats themselves. Can they successfully overcome?

Thật ra, Google tìm hiểu cái anh chàng đạo diễn hơn 40 tuổi này, cũng thấy một vài điểm thú vị. Thứ nhất, Hùng có sở trường về các bộ phim với bối cảnh thời gian cũ, cách đây vài chục năm, khá trùng hợp với không gian của Rừng NaUy. Thứ hai, dưới tư cách là một độc giả, hẳn ở Hùng phải có ít nhiều đồng cảm với cuốn tiểu thuyết kia mới có thể liều lĩnh ra quyết định dựng phim này. Thứ ba, nhiều báo chí ca ngợi cái nhạy cảm của Hùng ở việc ứng dụng âm nhạc vào phim ảnh. Điển hình là bộ phim Cyclo. Nhạc cảm, đây là yếu tố quan trọng để một người đạo diễn có thể đồng vọng với một nhà văn như Murakami. Thứ tư, trưởng thành ở Pháp, cái nôi nghệ thuật của thế giới, trong dòng máu và tinh thần của Hùng, biết đâu đấy, có chút gì tương đồng với tư tưởng của Murakami, chống đối với văn hóa truyền thống, ưa thích đặc biệt với văn hóa ngoại lai và luôn tìm tòi con đường đi riêng cho mình.

Dù thế nào đi nữa, vẫn phải trở lại với quan điểm của họa sĩ-nhà thơ Tạ Tỵ, ông cho biết ông hoàn toàn không thích các ca khúc phổ thơ. Ông cho rằng nhạc điệu đã huỷ hoại, thậm chí giết chết hồn thơ. Du Tử Lê cũng đồng lòng với quan điểm này. Ông chia những nhạc sĩ phổ nhạc thành ba loại: Nhạc sĩ nhận tiền của những người làm thơ để phổ nhạc - nhạc sĩ giết chết hồn thơ - và những nhạc sĩ chắp thêm đôi cánh cho hồn thơ. Tự bản thân mình, Du Tử Lê cũng thừa nhận ông đã bị giết chết nhiều lần.

Tự bản thân mình, tôi cũng không hề mong đợi một điều gì ở bộ phim này.

Biết đâu đấy, Trần Anh Hùng đang và sẽ giết chết Murakami?

Ha ha, who know...?

Hà Nội, 11:29 am
07082008